Ổi Bo Thái Bình

Dulichbui's Blog - Đã từ lâu, ổi Bo Thái Bình đã trở nên quen thuộc với mọi người không chỉ đối với những người con sinh ra ở đất Thái Bình mà còn được biết đến ở nhiều tỉnh thành khác. Ổi Bo đã trở thành "đặc sản” được nhắc đến trong văn hoá ẩm thực của người Thái Bình.

Ổi thì dường như ở miền quê nào cũng có, nhưng ổi Bo Thái Bình không bị hoà trộn với bất cứ loại ổi nào, bởi dường như nó đã hội tụ những gì tinh tuý nhất của đồng đất và con người quê hương Thái Bình. Những ai đã từng một lần thưởng thức ổi Bo hẳn sẽ rất ấn tượng với vị thơm ngọt man mát, cùi dầy, ít hạt, thơm dòn.
Theo các bô lão thì từ khi còn rất nhỏ, các cụ đã được nghe thế hệ cha ông đi trước kể chuyện về xuất xứ cây ổi Bo rằng: Ngày xưa, có một ông nhà ở cạnh sông Trà Lý, trong một lần đi dạo cạnh bờ sông thấy có một quả lạ nổi trên dòng nước liền vớt về ném ở sau vườn, sau thấy cây lên quả ăn rất ngon mới đem nhân rộng ra để trồng. Mặc dù xuất xứ của cây ổi Bo (làng Bo, xã Hoàng Diệu, Thái Bình), còn mang nhiều “bí tích” nhưng để có được quả ổi thơm ngọt là cả một quá trình gồm nhiều công đoạn chăm sóc vun trồng cầu kỳ của bàn tay con người: từ gieo giống, chăm sóc tới khi thu hoạch.
Từ khâu gieo giống cũng đòi hỏi sự tỷ mỉ và hiểu biết nhất định, muốn lấy được giống tốt phải gieo hạt vào tháng 8 - là lúc thời tiết có mưa nhiều. Cây được chọn để lấy giống phải là cây mới bói, quả ở cành ngồng để cho thật chín, ruột ổi (chứa hạt) để trong khoảng một tuần cho nhũn ra thành nước, sau đó cho vào rá đãi lấy hột. Sau khâu chọn giống là khâu làm luống. Luống đất để gieo cây phải để thật khô đất phải đập thật mịn và nhỏ, kéo luống cao 20 phân so với mặt vườn, rộng 1m. Sau đó mới cho hạt giống đã chuẩn bị sẵn vào gieo, phủ lên trên bề mặt luống một lớp rạ mỏng, giữ độ ẩm liên tục trong mươi ngày. Sau khoảng 1 tháng cây mọc lên hẳn mặt đất mới rỡ rạ ra. Để như vậy trong vòng 5 tháng sau mới đánh thưa ra để trồng. Khi cây có quả (quả to) phải bón phân kali trước khi thu hoạch một tháng cho quả rắn lại. Từ công đoạn gieo hạt đến khi được thu hoạch trái ổi đầu mùa phải mất tới ba năm.
Quả ổi Bo cũng có nhiều loại: có loại quả nhìn giống như quả cam dẹt, có loại quả lại như quả lê (hay quả đu đủ nhỏ), lại có quả giống như quả găng có năm múi và năm khe. Nhưng chất lượng và vị ngon của giống ổi Bo chính hiệu - tức là loại quả được trồng trên đất nguyên thổ của làng Bo, với chất đất phù sa nhẹ tốt, mỗi năm chỉ cho thu hoạch một vụ vào tháng 7 hằng năm thì không giống ổi ở đâu sánh bằng. Bởi cũng là giống ổi Bo được ươm trồng ở đất Thái Bình, nhưng khi mang đi trồng ở tỉnh khác thì hương vị và chất lượng lại thay đổi hoàn toàn.
Cây ổi Bo cũng thể hiện nét riêng đặc biệt của mình đối với người trồng và thưởng thức nó: khi hái ổi phải hái bằng nèo không được trèo lên cây, và cành ổi cũng không được rũ xuống gần đất có như vậy ổi mới không bị chua. Khi ăn ổi Bo không nên dùng dao để cắt như vậy ăn miếng ổi sẽ thấy chua, phải ăn một cách bình dị dân dã mới ngon, cứ dùng răng cắn vào thịt quả ổi để cảm nhận hương vị đặc trưng của nó. Đầu tiên là thấy vị chát, sau là chua dịu, rồi vị ngọt thấm dần vào đầu lưỡi, vào khoang miệng và lưu lại trong cổ họng.
Chính những hương vị đặc trưng đó, mà ổi Bo đã trở thành một thứ đặc sản mang đậm hồn quê, như nhắc nhở những người xa luôn nhớ về quê lúa Thái Bình.
Phạm Thị Nga (Sở Văn hoá, TT và DL Thái Bình)
BB494Z8U6ET5

Read more...

Chùa Keo (Thái Bình)

Dulichbui's Blog - Chùa thường gọi là chùa Keo, tọa lạc ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa ban đầu có tên là Nghiêm Quang, được dựng từ năm 1067 ở hương Giao Thủy, cạnh bờ sông Hồng. Đến năm 1167, chùa mới đổi tên là chùa Thần Quang.
Do ảnh hưởng mực nước sông Hồng, từ năm 1611, chùa đã được dân làng dời đi, lập lại chùa mới ở Nam Hà và Thái Bình. Việc dựng chùa mới được bắt đầu từ năm 1630, hoàn thành năm 1632. Chùa được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ XVII, XVIII và năm 1941. Chùa có quy mô kiến trúc rộng lớn trên một khu đất khoảng 58.000m. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Sau chùa Phật có đền thờ Thiền sư Không Lộ, người khai sơn ngôi chùa vào thời Lý. Công trình kiến trúc nổi tiếng của chùa là gác chuông. Gác chuông cao 11,04m, có 3 tầng mái. Tầng một có treo một khánh đá (dài 1,87m), tầng hai có quả chuông đúc năm 1686, tầng ba và tầng thượng có chuông đúc năm 1796. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng bậc nhất ở Việt Nam.
Chùa Keo có tên chữ là Thần Quang Tự, được xây dựng từ năm 1630 đến năm 1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng, và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ.
Nhưng lịch sử của ngôi chùa thì có bề dày đến hơn chín thế kỷ. Theo sách Không Lộ Thiền sư ký ngữ lục, năm 1061, Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng. Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: một nửa dời về đông nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Định); một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Thái Bình này.
Văn bia và địa bạ chùa Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng đến 58.000 m2. Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25 m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa chạm rồng chầu (thế kỷ 16). Sau đó là chùa thờ Phật, gồm ba ngôi nhà nối vào nhau. Trong cùng là tòa gác chuông, nhà tổ và khu tăng xá.

Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thời hậu Lê. Được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04 m gồm 3 tầng mái, kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau. Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng ngậm, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng. Tầng một treo khánh đá 1,20 m và chuông đồng cao 1,30 m, đường kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông (1686); hai tầng trên treo chuông nhỏ cao 0,62m, đường kính 0,69 m đúc vào năm 1796.

Đứng soi mình xuống hồ nước phẳng lặng giữa một không gian thoáng đãng, chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ. Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục tập yếu, Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch.
Tương truyền rằng từ khi đắc đạo, Thiền sư Không Lộ có khả năng bay trên không, đi trên mặt nước và thuần phục được rắn, hổ. Truyền thuyết còn kể rằng trước khi viên tịch, Ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biến thành tượng. Thánh tượng này nay còn lưu giữ trong hậu cung quanh năm khóa kín cửa.



Cứ 12 năm một lần, làng Keo lại cử ra một người hội chủ và bốn viên chấp sự để làm lễ trang hoàng tượng Thánh. Những người này phải ăn chay, mặc quần áo mới, họ rước thánh tượng từ cấm cung ra rồi dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm và tô son lại cho tượng Thánh. Công việc này phải làm theo một nghi thức được quy định rất nghiêm ngặt, những người chấp sự phải tuyệt đối giữ kín những gì đã thấy trong khi trang hoàng tượng Thánh. Đến thăm chùa, khách có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như một bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.


Tam quan chùa có đủ cả 3 gian gồm không quán, giả quán và trung quán. Đây là công trình kiến trúc đơn lẻ đậm vẻ kiến trúc của thế kỷ 17. Điều đặc biệt là đôi cánh cửa, chiều cao 2m, chiều rộng 1,3m khi khép lại tạo ra một mạng chạm hoàn thiện, giữa là mặt nguyệt, hai bên là 2 con rồng chầu, thân rồng uốn nhiều lần, đầu tóc rất dữ dội. Đao rồng dựng lên như biển lửa, chúc xuống như rừng giáo mác. Phía sau là 2 rồng con núp sau rồng mẹ, dáng vẻ rất thảnh thơi. Về mặt kiến trúc, trên một mặt chạm gỗ đục sâu không quá 3cm, nghệ nhân rất thành công khi áp dụng luật tối, sáng, xa gần dù không dùng tới một chút màu nào cả nhưng khi ta nhìn thấy có tối, có sáng, có xa, có gần với những đường chạm rất sắc sảo, nét khắc rất tinh vi. Nếu đôi cánh cửa ở Chùa Phổ Minh tiêu biểu cho kiến trúc đời Trần thì đôi cánh cửa chùa Keo tiêu biểu cho kiến trúc đời Lê".
Đi tiếp vào chùa, gặp ở hai bên 24 gian hành lang là nơi quý khách sắm lễ vào Chùa lễ Phật và lễ Thánh. Điều quý nhất ở khu tam bảo là pho tượng Quan Âm Nam Hải có niên đại 450 năm. Toàn bộ khu thờ Phật của Chùa Keo có gần 100 pho tượng. Bùi Anh Diêm giới thiệu: "Pho tượng Tuyết Sơn hay còn gọi là Thích Ca Mâu Ni này có tính chất nhân trắc học tức pho tượng đã đáp ứng được sự tích. Từ xương sườn, xương quai xanh, bánh chè, đầu gối, mỏ ác đều thể hiện tài đức của ông. Môi mỏng thể hiện tài thuyết pháp, mắt thể hiện sự nhìn xa trông rộng và đầu thể hiện tư duy lớn. Pho tượng này có niên đại khoảng 400 năm".


Sau khu thờ Phật là khu thờ thánh. Hội chùa Keo diễn ra vào ngày 4 Tết âm lịch và từ 13 đến 15-9 âm lịch. Tại hội chùa Keo, sau khi đã có những nghi lễ như mọi hội chùa khác, thì diễn ra trò chơi kéo nứa lấy lửa, nấu xôi, nấu chè và nấu cơm chay để mang cúng Thánh. Phía ngoài có một giếng nước. Thành giếng xếp bằng 36 cối đá thủng đã dùng giã gạo nuôi thợ xây chùa.
Phía trong cùng là gác chuông chùa Keo. Đối với những người Thái Bình xa quê hương thì đây là biểu tượng của quê hương Thái Bình. Chiều cao gác chuông là 12,7m, chịu lực trên 4 cột chính, mỗi cột cao 5m, đường kính 70cm và 3 tầng kiến trúc chồng lên nhau song không có sự che khuất. Phía trên cùng là quả chuông nặng 3 tạ, tầng thứ hai có quả chuông 8 tạ và tầng cuối cùng, quả chuông nặng 1,3 tấn.
Trải qua gần 400 năm tu bổ, tôn tạo, chùa Keo vẫn giữ nguyên bản sắc kiến trúc độc đáo của mình. Gác chuông với bộ mái kết cấu gần 100 đàn đầu voi là viên ngọc quý trong gia tài kiến trúc Việt Nam. Bộ cánh cửa chạm rồng là bộ cửa độc đáo của cả nước. Chùa còn bảo lưu được hàng trăm tượng Pháp và đò tế thời Lê. Có thể nói Chùa Keo là một bảo tàng nghệ thuật đầu thế kỷ XVII, với nhiều kiệt tác đặc sắc như Thượng sư Không Lộ bằng gỗ trầm, tượng Quan Âm từ thời Mạc, tượng Cửu Long, tượng La Hán thời Lê.
Chùa Keo là một công trình kiến trúc quy mô, phức hợp nhiều khối kiến trúc đa dạng nhất trong tất cả các kiến trúc Phật giáo ở Đồng bằng Bắc bộ.
Nghệ nhân Nguyễn Văn Trụ, người thiết kế và chỉ đạo thi công chùa đã khéo lựa chọn cho chùa có một vị trí xây dựng vừa đẹp, vừa đáp ứng mục đích chính của chốn thiền. Chùa xây dựng trên một vùng đất rộng 100.000 mét vuông, dài từ chân đê đến con ngòi của thôn Bồng Tiên, gồm nhiều cụm kiến trúc xếp theo một trục dài cao thấp khác nhau, kiến tạo nhiều lớp nhiều tầng, ẩn hiện dưới những lùm cây, gợi cho khách tham quan, những nhà văn, nhà thơ, nhà nghệ thuật nhiều cảm nhận theo những khoảnh khắc khác của thời gian như: khi thì mái ngói dào lên cơn sóng nắng, khi thì gác chuông chìm xuống ráng chiều tà. Hay trong giây phút tĩnh lặng tâm hồn, một tiếng chuông buông và phút chốc trời đất bốn phương cũng giao hòa. Nếu không phải bị cuốn hút bởi những điều đó thì hãy theo bước chân của những người hành hương vào chùa qua Tam quan ngoài, Tam quan trong, đến gần một hồ rộng để tầm mắt hướng từ cao nhìn xuống sẽ dần dần phát hiện được cái lẽ đời Việt Nam ẩn dấu, hình thành một chuẩn mức thẩm mỹ.
Mọi người đến với chùa không có một chút gì ngăn cách về tinh thần, bắt đầu từ thể thức và mực thước của kiến trúc gợi nên vẻ đẹp uyên nhã, khơi dậy những tình cảm vuông tròn như trong nếp nghĩ và sự cầu mong của người nông dân Việt Nam là luôn luôn được mưa thuận gió hòa, là cuộc sống sinh sôi nảy nở mẹ tròn con vuông, là sự sinh tồn lấy lẽ bao dung và đùm bọc làm thước đo chân lý.
khi đến chùa ta thấy một không gian khép kín nhưng không hề bị chật hẹp, tù túng mà bao trùm một vẻ đẹp vươn tỏa bao la. Bí quyết để giải quyết điều này là ở chỗ kiến trúc chùa Keo đã mạnh dạn sử dụng mặt nước rộng ở cả 3 mặt trước và hai bên để thế chùa vừa mở rộng, vừa vươn cao trong ảo giác để hình bóng dáng chùa lẩn dần vào chiều sâu mặt nước, khiến cái ranh giới cụ thể nhằm đáp ứng tinh thần kín như văn bia Thần Quang Tự đã ghi: "Ngăn che khách trụ ghé nhòm" được xóa mờ với cảm giác bao la trong tâm tưởng khi muốn vươn tới chốn thiền. Ngoài cái sâu lắng trong tình cảm thẩm mỹ thì thực tại mặt nước soi bóng những hàng cây cổ thụ, bên nếp chùa có dáng thuyền rồng có những đường cong bờ nóc, như mãi lưu lại những vầng trăng khuyết là một thực tại cảnh quan như một nhà thơ về thăm chùa đã viết:
"Rõ là cảnh đấy, người đây Chùa Keo ơi nước non nào nên duyên"
Cũng giống như các chùa làng khác, bên ngoài là chữ Quốc, bao bọc bởi hai dãy hành lang bên tả, bên hữu gồm 42 gian, phía nước là hai cổng vào tòa nhà Hộ, phía sau là nhà thờ Tổ và gác chuông. Bên trong là chữ Công, nhưng là chữ Công kép vì chùa thờ tiền Phật hậu Thánh. Cụm kiến trúc chữ Công phía trước là nơi thờ Phật còn cụm kiến trúc chữ Công phía sau là thờ Thánh Không Lộ. Không Lộ là người đã đi tu và khởi đầu xây dựng chùa từ thời Lý thế kỷ thứ 11. Giữa hai cụm kiến trúc thờ Phật, thờ Thánh có tòa Giá Roi. Tòa nhà này trang trí không nhiều nhưng có cấu trúc đơn giản, hợp lý, có độ dựng thẩm mỹ được tính toán từ những hài hòa của tỷ lệ. Tỷ lệ của chúng từ chiều cao, độ to cột, hình dáng, đường nét đục chạm của bộ rui xà chặt chẽ đến mức không dư thừa, và như nhiều nhà nghệ thuật nói thì không thêm, không bỏ được điều gì ở đó. Trong số các ngôi chùa được công nhận là di tích văn hóa nghệ thuật cần được bảo vệ như một gia tài qúy báu thì Chùa Keo được xếp vào hàng ưu tiên. Công bằng mà nói, ngoài mức độ của sự uy nghi thì việc xây dựng chùa trước hết là tâm huyết của hàng vạn con người trong một thời gian dài non nửa thế kỷ. Chùa Keo là một giá trị, những giá trị về nghệ thuật, văn hóa, về tâm đức lòng người. Xét về mặt kiến trúc thì không thể không nhấn mạnh tổ chức không gian các tòa nhà trong cụm kiến trúc. Thoạt nhìn có sự giống nhau, và đồng nhất về mặt kích cỡ, nhưng thực ra lại có sự khác nhau trong từng tỷ lệ của cấu trúc, trong sự phong phú, trong nguyên tắc bố trí mặt bằng theo nhịp điệu thay đổi đúng mức, chỗ thì mở ra, chỗ thu hẹp vào rồi lại mở ra, tạo độ sâu trong không gian ngôi chùa, thu hút sự chú ý đến liên tục, gợi tạo sự phong phú của nội thất. Mặt bằng bên trong của ngôi chùa vẫn trong khiêm tốn về kích thước. Người Việt xưa trong những công trình kiến trúc của mình thường không ưa vẻ đồ sộ nhưng kiến trúc không nghèo nàn, vẫn dẫn ta từ không gian này đến không gian khác. Sự dãn cách của các công trình đã đạt được mục đích cố tình của nghệ thuật tổ chức không gian, làm không gian trong chùa không những có nhiều khu mà còn gợi ra khoảng không gian có nhịp điệu nhạc tính khi thưởng ngoạn.
Chùa Keo đã tồn tại ngót 400 năm. Trong suốt thời gian ấy, chùa Keo vẫn trọn vẹn là một tác phẩm nghệ thuật, ghi đậm một tình cảm thẩm mỹ vừa thực, vừa huyền thoại của văn hóa Việt Nam.


Theo Queluathaibinh.com

Read more...

Ngày Hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh lần VI

Dulichbui's Blog - Ngày hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VI/2010 sẽ chính thức khai mạc vào ngày 8/4 tới tại Công viên văn hóa 23/9.
Ngày hội do Sở VH,TT&DL thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Hiệp Hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh và các đơn vị liên quan tổ chức với các hoạt động du lịch - văn hoá - nghệ thuật đa dạng, phong phú sau đây:
Hội chợ du lịch: Đây là hoạt động chính của Ngày Hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VI năm 2010, dự kiến có khoảng 150 gian hàng của các địa phương, các doanh nghiệp Lữ hành; các đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch; đơn vị dịch vụ đạt chuẩn, đơn vị TP.HCM 100 điểm đến thú vị; các Trường Du lịch; các Hãng hàng không trong và ngoài nước; các cơ quan xúc tiến du lịch tỉnh, thành trong cả nước; các Văn phòng đại diện du lịch nước ngoài tại thành phố… tham gia triển lãm, giới thiệu điểm đến du lịch, sản phẩm mới, tour du lịch hè, tư vấn du lịch, các hoạt động bốc thăm trúng thưởng, các chương trình khuyến mãi bán tour giá ưu đãi cho du khách trong những ngày diễn ra Hội chợ …. Đặc biệt, đối với gian hàng giới thiệu các điểm đến du lịch các địa phương có thể kết hợp trưng bày, giới thiệu, bán các sản phẩm, đặc sản của địa phương đến với du khách.
Liên hoan Ẩm thực phương Nam: Nhằm giới thiệu nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực của Việt Nam, của Vùng đất phương Nam với sự tham gia của các nhà hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương. Các đơn vị tham gia tự quảng bá thương hiệu mình, biểu diễn nghệ thuật chế biến các món ăn, thức uống đặc sắc của đơn vị, địa phương mình; tổ chức phương thức kinh doanh hiệu quả để thu hút và phục vụ thực khách. Ngoài ra ban tổ chức có mời thêm một số nhà hàng giới thiệu các món ăn nước ngoài khác tham gia để tăng thêm sự phong phú, đa dạng cho liên hoan. Đồng thời giới thiệu đến với công chúng các đơn vị tham gia thành công và đạt thứ hạng cao trong Liên hoan ẩm thực Món Ngon các nước năm 2009 … Các đơn vị tham gia được bố trí mặt bằng để tự kinh doanh và phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Biểu diễn “Đờn ca tài tử Nam Bộ”: Đây là chương trình nghệ thuật đặc trưng của Vùng Đất phương Nam do Ban Tổ chức thiết kế nhằm bổ trợ các hoạt động Ngày Hội Du lịch 2009 thêm đa dạng, phong phú.
Cuộc thi “Sài Gòn-TP.HCM, Thành phố tôi yêu”: Đây là một sân chơi hấp dẫn, tạo cơ hội giao lưu giữa những người làm Hướng dẫn viên du lịch, từ các địa phương, các tỉnh thành và sinh viên các trường đào tạo về du lịch. Qua hình thức sân chơi kết hợp tuyên truyền, quảng bá về truyền thống lịch sử và nét đẹp văn hóa, vùng đất con người Sài Gòn-TP.HCM, góp phần quảng bá cho du lịch Thành phố́.
Liên hoan “Giọng hát vàng Ngành du lịch – 2010”: Hội thi gồm các thể loại Đơn ca, Tốp ca, Múa dành cho Nam - Nữ là cán bộ-công nhân viên, hướng dẫn viên đang công tác trong Ngành Du lịch, là sinh viên học sinh tại các trường du lịch thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn.
Cuộc thi ảnh đẹp du lịch thành phố Hồ Chí Minh : Giới thiệu những hình ảnh của thành phố Hồ Chí Minh – 100 điều thú vị và các chủ đề cuộc sống, con người “Sài Gòn – 24 giờ”.
Hội thi thuyết trình “Du hành đất Việt - 2010” sẽ được tổ chức với 3 vòng: Vòng sơ tuyển (thi kiến thức về kiến thức tổng hợp, văn hoá, xã hội, và du lịch); Vòng bán kết (thi thuyết trình về điểm đến du lịch ấn tượng); Vòng chung kết trao giải (với 3 phần thi: ứng xử, trình bày tiểu phẩm dự thi và hiến kế du lịch).


Theo Cinet, Hiệp hội du lịch Tp.HCM

Read more...

Khi người ta ăn...Hoa Ban

Dulichbui's Blog - Hàng năm, cứ vào thời điểm sau Tết âm lịch khi cái lạnh vùng cao giảm dần và nắng ấm khe khẽ bừng lên, cũng là lúc hoa ban bắt đầu cho “màn trình diễn” làm trắng cả núi rừng Tây Bắc. Khắp các làng bản của đồng bào Thái, lễ hội hoa ban mở ra trong rộn ràng chiêng trống, trong náo nức lòng người. Những cánh rừng ban trở thành những bức tranh thiên nhiên lộng lẫy, lãng mạn và vô vùng hấp dẫn.
Không chỉ trang điểm cho mùa xuân thêm đẹp, mà hoa ban còn là nguyên liệu chính để tạo nên những món ẩm thực dân dã và độc đáo của đồng bào nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Qua bàn tay cần cù và khéo léo của các êm các ý (các mẹ, các chị), cả lá và hoa ban đều có thể chế biến thành những món ăn giàu chất bổ dưỡng, mùi vị hấp dẫn như­: Hấp (đồ), xào, nộm, nấu canh.
Món Hấp: Đây là món xôi cách thuỷ, người ta chọn những bông ban mới nở, rửa sạch sẽ, cho vào chõ đậy kín rồi đun đều lửa chừng 15 - 20 phút là chín. Khi ăn chấm với chẩm chéo - một món chấm truyền thống của người Thái gồm muối trắng giã nhuyễn với hạt dổi, mắc khén, mùi tàu, tỏi, ớt...
Món xào: Nguyên liệu cho món xào gồm cả lá lẫn hoa, đun nhỏ lửa, vừa chín tới; gia vị như xào rau cải (chỉ không cho gừng).
Món nộm: Nguyên liệu cho món nộm cũng gồm cả lá lẫn hoa. Tuy nhiên, cách chế biến thì cầu kỳ hơn chút ít. Trước tiên phải hấp lên như món hấp, sau đó rỡ ra, trộn đều với các gia vị như dùng để chấm món hấp. Món nộm có hương thơm quyến rũ của lá, của hoa cùng các loại gia vị, thật khó ai có thể từ chối món ăn đặc biệt đó. Cánh đàn ông thích nhâm nhi mà có được món nộm hoa ban, lại ngồi với bạn tâm giao, thì sợ say chẳng biết lối về nhà.
Nấu canh: Với món canh hoa ban, trước tiên làm như món xào, sau đổ nước vừa đủ, chú ý đừng để trên bếp lâu quá.
Để khai thác những đặc tính của hoa ban, hiện nay trong các nhà hàng, khách sạn ở Tây Bắc nói chung và Điện Biên nói riêng, các món ăn từ hoa ban đang xuất hiện nhiều hơn trong các thực đơn. Còn gì thú vị hơn và nên thơ hơn khi trong một khung cảnh trữ tình, thực khách vừa khoan khoái thưởng thức những món ăn từ hoa ban với hương vị độc đáo, vừa được các nữ tiếp viên xinh đẹp kể cho nghe câu chuyện tình bất tử về hoa ban. Chuyện rằng...
... Ngày xửa ngày xưa, ở mường nọ có một chú bé tên là Khun. Chàng Khun càng lớn càng làm nương giỏi, săn bắn lại rất tài. Cùng bản có cô gái tên là Ban đẹp người đẹp nết, múa dẻo, hát hay. Khun và Ban yêu nhau tha thiết, hẹn ngày kia nên vợ nên chồng. Nhưng trong vùng có tên chúa đất gian tham, thấy Ban xinh đẹp nó liền cho người bắt Ban về làm vợ, trong khi Khun đang đi làm ăn ở nơi xa. Ban bỏ nhà, bỏ bản quyết chí ra đi tìm Khun. Nàng vào rừng, đi mãi, gọi mãi mà chẳng thấy Khun đâu. Một chiều nọ, leo tới đỉnh núi thứ một nghìn thì Ban gục xuống trong đói khát, mệt mỏi và tuyệt vọng. Từ chỗ Ban nằm, bất ngờ mọc lên một loài cây với những cái lá trông như hình hai trái tim lồng lên nhau. Chỉ mấy hôm sau, cây trổ những cái nụ trắng hồng như ngón tay trinh nữ, những cái nụ lại nở ra những đoá hoa có nhị mang màu tím thuỷ chung, còn cánh thì trắng như màu ly biệt - đó là cây ban... Ngày Khun trở về không thấy Ban, chàng đi tìm qua muôn ngọn núi, qua vạn ngả đèo. Cuối cùng Khun kiệt sức ngã xuống, biến thành con chim mà nay người ta gọi là chim Khun. Loài chim Khun sống lẻ loi trong rừng, không có bầy đàn, không có tổ, suốt ngày bay lang thang như kiếm tìm ai đó giữa hoang dã điệp trùng. Quanh năm chim Khun im lặng, chỉ khi mùa xuân về, hoa ban nở thì nó mới hót. Tiếng hót chim Khun nghe như tiếng kêu khắc khoải lạc bầy, khi hoa ban tàn thì chim Khun cũng thôi không hót. Có lẽ nó lại dành thời gian vào việc kiếm tìm vô vọng, khổ đau...?
Mùa xuân, khắp miền Tây Bắc đâu đâu cũng có hoa ban - đó là loài hoa đã đi vào huyền thoại, đi vào tình yêu, đi vào câu chuyện bên bếp lửa hàng đêm. Dân ca Thái có câu hát: “Đôi ta yêu nhau không tính mùa ban nở - Không thấy ngày ban tàn - Không tính tháng, không tính năm - Mãi mãi như mùa hoa đầu đôi ta yêu nhau”...

Theo Báo Điện Biên Phủ

Read more...

Nhà thờ đá Phát Diệm

Dulichbui's Blog - Cách thành phố Ninh Bình 28km về phía Nam, Nhà thờ toạ lạc trên một khu đất rộng khoảng 117m, dài 243m, giữa trung tâm thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Đầu thế kỷ XIX nơi đây chỉ là vùng đất bồi với bùn lầy và ngút ngàn cỏ sậy. Năm 1828, Nguyễn Công Trứ được triều đình nhà Nguyễn ở Huế phái ra Bắc với chức “Dinh Điền Sứ” đã khai phá lập ra vùng đất này. Kim Sơn là “núi vàng” và Phát Diệm có nghĩa là “Phát sinh ra cái đẹp”.
Quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm được xây dựng nhiều hạng mục khác nhau như: ao hồ, tượng đài, Phương Đình, Nhà thờ lớn, Nhà nguyện kinh thánh Rô Cô, Nhà nguyện kinh trái tim chúa, Nhà nguyện kinh thánh Giu-Se, Nhà nguyện kinh thánh Phê-Rô và các hang đá nhân tạo... Tất cả được bố trí trên một mặt bằng tổng thể hình chữ “Vương”, không gian đóng mở theo phong cách tạo cảnh phương Đông rất rõ nét, trước có hồ, sau có núi, không những làm cho phong cảnh thêm hữu tình mà còn thể hiện tư duy, quan niệm của người Á đông “Tiền có thuỷ, hậu có sơn”, mọi việc sẽ diễn ra tốt đẹp, an lành cho cuộc sống hiện tại và mai sau. Nhà thờ được xây dựng trong suốt 24 năm (1875 - 1899) với vô vàn khó khăn, phương tiện làm việc thô sơ. Hàng ngàn tấn đá, có phiến nặng tới 20 tấn, hàng trăm cột gỗ lim có cây cột dài tới 12m, đường kính 2,4m, nặng tới 7 tấn... được vận chuyển từ Thanh Hoá, Nghệ An và nhiều nơi khác xa hàng trăm cây số về Phát Diệm. Phương Đình là hạng mục công trình được hoàn thành sau cùng vào năm 1899, là điểm nhấn, kiệt tác về nghệ thuật, kiến trúc. Phương Đình có nghĩa là “Nhà vuông” thay vì vút cao trên bầu trời theo hình tháp vuông hoặc tròn thường thấy ở các thánh đường phương Tây, Phương Đình mang hình dáng của một ngôi đình làng rộng lớn, kích thước gần như vuông, chiều ngang 21m, sâu 17m, cao 25m. Tầng dưới lớn nhất, nếu bỏ đi hai lối lên gác thì phần giữa có hình dáng của một cổng tam quan trong kiến trúc truyền thống, được xây dựng bằng đá xanh với kỹ thuật thủ công tinh xảo. Trên các vách có phù điêu bằng đá tạc một số vị thánh, hai vách ngoài của Phương Đình là những chấn song đá hình câu trúc, trên các vách ngoài của tầng dưới có những phù điêu tạc sự tích chúa Giê-Su từ khi vào thành Giêrusalem đến khi lên trời.
Tầng trên của Phương Đình được dựng 5 khối tháp, trên đỉnh của 4 khối tháp ở 4 góc là tượng 4 vị thánh chép 4 sách Tin mừng được đặt giống như búp sen hay bình cam lộ thường thấy trên đỉnh của những mái đình, chùa cổ của làng quê Việt. Khối tháp trọng tâm cũng giống như 4 khối tháp góc, đầu có 3 tầng cấu trúc theo kiểu lầu thức, lợp ngói mũi hài, gác chuông được đặt một quả chuông nam có chiều cao 1,90m, thể hiện sự kết hợp hài hoà, tinh tế của hai nền văn hoá Đông - Tây.
Nhà thờ lớn: được xây dựng vào năm 1891, chỉ trong vòng 3 tháng nhưng công việc chuẩn bị, sắm sửa vật liệu và trị chân móng đã kéo dài cả chục năm trước đó. Điểm chung trong kiến trúc nhà thờ Phát Diệm giống với nhà thờ ở Châu Âu đó là lòng Nhà thờ dài 74m, còn lại đều thiết kế theo kiểu cách của đạo Phật. Sự diễn cảm trong không gian thờ tự cũng sử dụng rất nhiều cách trình bày truyền thống. Lòng nhà thờ được chia làm 10 gian sử dụng 9 bộ vì giá nghiêng-chồng giường với 6 hàng cột mang đậm chất kết cấu kiến trúc dân gian, với không gian rộng lớn trong kiến trúc nhà thờ ở phương Tây nhờ bề ngang (21m và tầm cao là 15m), thể hiện sự tài hoa của người thiết kế xây dựng. Hệ thống mái được phân thành 2 tầng, ngắt quãng bởi cửa sổ, vừa lấy ánh sáng vừa tạo độ vút cao cho mái. Đây chính là dạng mái chồng diêm trong kiến trúc truyền thống. Cuối nhà thờ, chái kiệu có cấu tạo là một khối sâu bằng đá hoa cương, phần xây cuốn vòm tạo thành 5 lối vào nhà thờ, mặt bằng và mặt đứng đều giật cấp với đỉnh cao ở lối chính giữa và thấp dần về hai bên. Phía trên tháp lợp ngói mũi hài, với đầu đao cong lượn thanh thoát, gợi lên sự phối hợp tinh tế của hai lối kiến trúc Đông Dương - Gotic. Một điểm nữa cần nhắc tới là những mảng sơn son thếp vàng trên đồ thờ bằng gỗ trong nhà thờ gợi lên một không gian thờ truyền thống của dân tộc Việt.
Nhà thờ trái tim Đức Mẹ (Nhà thờ đá): được xây dựng đầu tiên vào năm 1883, có chiều dài 15,30m, rộng 8,50m, cao 6m. Nền, cột, xà, tường, chấn song, tháp, bàn thờ đều bằng đá, do đó người Phát Diệm quen gọi là Nhà thờ đá. Mặt tiền của nhà thờ gồm một toà Đức mẹ ở giữa với hai tháp hai bên, tháp kết cấu 5 tầng, có đường nét giống với tháp Bút ở hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Phía trong nhà thờ được làm bằng đá cẩm thạch với bố cục, đường nét thanh thoát, nhẹ nhàng, hai bên là những chấn song đá và những bức chạm thông phong. Trên bàn thờ chính là nhà tạm bằng gỗ chạm, sơn son, thếp vàng và tượng Đức mẹ bằng đá. Bên ngoài nhà thờ có những bức chạm thông phong hình chim Phượng hàm thư, quả là một kiệt tác, đã có du khách gọi nhà thờ này là “Viên ngọc” trong quần thể Thánh đường Phát Diệm.
Có thể nói, quần thể Thánh đường Phát Diệm là sự giao thoa, sự kết hợp hài hoà, tinh tế của lối kiến trúc nhà thờ phương Tây và kiến trúc truyền thống phương Đông. Công giáo mang đức tin đến cho con người nhưng phong cách kiến trúc, không gian thờ tự mang đậm hình ảnh mái đình, ngôi chùa vốn đã ăn sâu vào tiềm thức của người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, tạo nên sự bình an, che chở, đây cũng là biểu tượng của sự gặp gỡ giữa công giáo và truyền thống tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Nhà thờ Phát Diệm còn là điểm tham quan du lịch hấp dẫn của du khách trong nước và quốc tế, là điểm nhấn trong bức tranh toàn cảnh về di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của quê hương Ninh Bình.
Nguồn: Thế giới di sản

Read more...

Tuần văn hóa du lịch Hội An 2010

Dulichbui's Blog - UBND TP Hội An quyết định sẽ tổ chức tuần văn hóa-du lịch Hội An-thành phố anh hùng chào mừng 35 năm giải phóng Hội An vào cuối tháng 3.2010.
Chương trình sẽ diễn ra các hoạt động như: Lễ kỷ niệm và diễu binh, diễn ca truyền thống, nghệ thuật đồng diễn, diễu hành xe hoa chào mừng 35 năm giải phóng Hội An vào ngày 28.3 tại Sân vận động Hội An; Hội thi trang trí 35 xe hoa mừng 35 năm giải phóng Hội An (27- 29.3). Hội trại Thanh niên (26-28.3).Từ 20g30 đến 21g30 đêm 27.3, trên toàn địa bàn thành phố sẽ tắt điện hưởng ứng Giờ trái đất 2010 – “Hành động nhỏ cho thay đổi lớn” và sẽ tổ chức chương trình Nghệ thuật “Huyền diệu trăng phố cổ” tại khu vực Sông Hoài-phố cổ Hội An.Tuần lễ văn hóa-du lịch sẽ còn có các hoạt động văn hóa, thể thao khác như: Đêm ga-la “Giai điệu thời gian” giao lưu-gặp gỡ các thế hệ văn nghệ sĩ và vận động viên tiêu biểu Hội An. “Ngày hội làng chài” với các cuộc đua thuyền ngang, thi lắc thúng chai. Thi đấu bóng đá nữ, Thi đấu bóng chuyền bãi biển, Thi đan lưới, Trò chơi miền biển diễn ra tại bãi biển Cửa Đại.
  • Chương trình lễ và diễu binh, diễn ca truyền thống, nghệ thuật đồng diễn, diễn hành xe hoa chào mừng 35 năm giải phòng Hội An vào lúc 6g30 sáng ngày 28/3/2010 tại Sân vận động Hội An.
  • Hội Thi trang trí 35 xe hoa mừng 35 năm giải phòng Hội An từ đêm 27 đến đêm 29/3/2010.
  • Hội trại Thanh niên Hội An tại Sân vận động Hội An từ đêm 26 đến đêm 28/3/2010.
  • Hưởng ứng Giờ trái đất 2010 – “Hành động nhỏ cho thay đổi lớn” của thế giới từ 20g30 đến 21g30 đêm 27/3/2010 trên toàn địa bàn thành phố và chương trình Nghệ thuật “Huyền diệu trăng phố cổ” tại khu vực Sông Hoài - phố cổ Hội An.
  • Đêm ga-la “Giai điệu thời gian” giao lưu-gặp gỡ các thế hệ văn nghệ sĩ và vận động viên tiêu biểu Hội An vào đêm 28/3/2010 tại sân vận động Hội An.
  • “Ngày hội làng chài”:

- Đua thuyền ngang, thi lắc thúng chai vào sáng ngày 01/4/2010 tại sông Cổ Cò, Phường Cửa Đại Hội An

- Thi đấu bóng đá nữ, Thi đấu bóng chuyền bãi biển, Thi đan lưới, Trò chơi miền biển vào chiều ngày 01/4/2010 tại Bãi biển Cửa Đại Hội An.


Theo Ban tổ chức, Báo Văn hóa

Read more...

Carnaval Hạ Long 2010 qua hình ảnh mô phỏng

Dulichbui's Blog - Lễ hội Du lịch Hạ Long 2010 chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, dự kiến sẽ diễn ra trong 4 ngày từ 28-4 đến 1-5. Một trong những điểm nhấn của lễ hội năm nay là Carnaval Hạ Long năm 2010. Được tổ chức hoành tráng, với các đoàn xe, phà, tàu trang trí lộng lẫy mang các chủ đề khác nhau diễu hành trên bờ, dưới biển, Carnaval năm nay khẳng định tầm vóc của một lễ hội cấp quốc gia và khu vực. Báo Quảng Ninh giới thiệu một vài hình ảnh mô phỏng lễ hội do Công ty Sơn Lâm - Hà Nội, đơn vị tổ chức sự kiện cung cấp.

Xe hoa mang chủ đề "Hội nhập văn hoá quốc tế"


Xe hoa mang chủ đề "Sắc màu văn hoá Đồng bằng Sông Cửu Long"

Xe hoa mang chủ đề "Hội nhập văn hoá cao nguyên"

Xe hoa mang chủ đề "Hội nhập văn hoá miền biển"

Xe hoa mang chủ đề "Hội nhập văn hoá đồng bằng Sông Hồng"

Xe hoa mang chủ đề "Hội nhập văn hoá miền núi"

Xe hoa mang chủ đề "Vịnh Hạ Long - đa dạng hệ sinh thái"

Xe hoa mang chủ đề "Vịnh Hạ Long - chiếc nôi văn hoá"

2 sân khấu trên biển là những chiếc phà trang trí mang biểu tượng "Thành phố Rồng hạ hướng về Thành phố Rồng bay" kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Lễ hội Du lịch Hạ Long 2010 sẽ thiết kế sân khấu nổi (với biểu tượng rồng uốn lượn xung quanh) tạo không gian trên bờ cho du khách.

Read more...
/

TOUR BỤI

BÀI MỚI NHẤT

TIN TỨC

  ©Bản quyền 2008 - 2010 thuộc về Dulichbui's Blog | Trang thông tin cẩm nang hướng dẫn du lịch Việt Nam.

Liên hệ: Số 51 Quốc Hương, Thảo Điền, Q.2, Tp.HCM - Hotline: 0985792559 - Email: info@dulichbui.org